Cảm nhận về nhân vật ông sáu

-

Tuyển chọn những bài văn hay chủ đề Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà. Các bài văn mẫu được biên soạn, tổng hợp ngắn gọn, chi tiết, đầy đủ từ các bài viết hay, xuất sắc nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Mời các em cùng tham khảo nhé!

Tóm tắt đôi nét về Nguyễn Quang Sáng và Chiếc lược ngà

*

Trước lúc cảm nhận về nhân vật ông Sáu, bạn cần phải nắm được những nét cơ bản về tác giả Nguyễn Quang Sáng cũng như tác phẩm Chiếc lược ngà.

Bạn đang xem: Cảm nhận về nhân vật ông sáu

1. Sơ nét về nhà văn Nguyễn Quang Sáng

Nguyễn Quang Sáng sinh vào năm 1932, quê ở huyện Chợ Mới tỉnh An Giang. Ông mất năm 2014. Năm 1946, ông tham gia vào quân nhân làm liên lạc viên. Năm 1948, ông học văn hóa truyền thống tại trường Nguyễn Văn Tố. Năm 1950, ông công tác tại Phòng Chính trị Bộ Tư lệnh phân khu miền Tây Nam Bộ, làm cán bộ nghiên cứu tôn giáo. Đến năm 1955, ông theo đơn vị tập trung chuyên sâu ra Bắc sau làm công tác tại Phòng Văn nghệ Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam. Đến năm 1958, ông chuyển công tác thao tác làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Ông từng giữ chức Tổng thư ký Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Quang Sáng không chỉ tham gia cuộc kháng chiến sôi nổi mà bên ngành văn nghệ ông cũng luôn có nhiều đóng góp lớn. Ông sáng tác trên nhiều thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch bản phim. Các sáng tác của ông chủ yếu lấy toàn cảnh và khắc họa tính cách người dân Nam Bộ. Trước những đóng góp của ông dành riêng cho văn học, ông đã được Nhà nước trao tặng Phần thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật và thẩm mỹ.

2. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Chiếc lược ngà

Tác phẩm “chiếc lược ngà” được viết vào năm 1966. Lúc đó, tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ, đó là trong thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt. Nói về hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn này, Nguyễn Quang Sáng đã tâm sự: “Năm 1966, tôi ở miền Bắc trở về miền Nam. Vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng. Tôi đi ghe vào sâu rừng và sống trong một nhà sàn treo trên ngọn cây. Lúc ấy, đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ. Tôi đã rất có ấn tượng với mẩu truyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng. Sau lúc nghe cô gái kể chuyện, tôi ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này”.

Dàn ý Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà

Mở bài

Giới thiệu về truyện ngắn và nhân vật:

- Truyện ngắn Chiếc lược ngà được viết năm 1966, kể về tình phụ tử vô cùng thiêng liêng và sâu sắc của cha con ông Sáu trong cảnh ngộ sinh li tử biệt của chiến tranh ác liệt.

- Hình ảnh ông Sáu đã để lại cho bạn đọc ấn tượng sâu sắc về tình cảm và những cử chỉ dù bình dị nhưng cũng đầy thiêng liêng, ấm tình cha con mà ông dành cho bé Thu

Thân bài

a) Hoàn cảnh của nhân vật: Ông Sáu là một nông dân Nam Bộ, tham gia kháng chiến từ năm 1946, khi con gái chưa được một tuổi, lúc con chạc tám tuổi mới được về thăm quê ba ngày.

b) Tình yêu dành cho con của ông Sáu:

- Trong những ngày ông về thăm quê:

+ Hành động thể hiện sự nôn nóng mong gặp con: nhảy lên bờ, bước vội, kêu to gọi con.

+ Sững sờ, bàng hoàng khi con bỏ chạy: mặt sầm lại, hai tay buông xuống.

⇒ông Sáu đang xúc động thì phải nhận sự sợ hãi, xa lánh của bé Thu, tâm trạng từ trông chờ, vui sướng trở thành bàng hoàng, đau đớn.

+ Thời gian ở bên con: ông Sáu chỉ ở nhà với con, chờ con gọi một tiếng “ba”. Mọi sự cố gắng của ông từ giả vờ không nghe con gọi khi nó nói trỏng, không giúp con chắt nước cơm, gắp thức ăn cho con là một sự nỗ lực đau đớn của người cha khi con gái không nhận mình. Cảm xúc đau đớn dồn nén đến tức giận, ông đánh con.

+ Cảnh chia li: ánh mắt của ông trìu mến lẫn buồn rầu, bất lực nhìn con gái. Khi con gái nhận và ôm chặt lấy mình, ông Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con.

⇒ tình phụ tử đã vượt qua sự ngăn cách của thời gian, của chiến tranh. Ông Sáu đã nhận được sự công nhận và yêu thương của bé Thu.

- Trong những ngày ông ở căn cứ:

+ Ông nhớ con, ân hận vì đã đánh con.

+ Tìm bằng được mảnh ngà voi để làm lược tặng con.

+ Ngày ngày tỉ mỉ ngồi làm chiếc lược ngà. Lúc nhớ con, ông nhìn ngắm và cài lược lên tóc.

+ Ông đã hi sinh khi chưa kịp tặng cho con gái chiếc lược ngà. Trong giờ phút cuối cùng, ông vẫn chỉ nhớ đến con, đưa tay vào túi, móc cây lược đưa cho đồng đội.

⇒ Chiếc lược ngà là vật chứa đựng biết bao yêu thương, nhung nhớ của ông Sáu dành cho con gái. Đó là một tín vật của tình phụ tử. Đó cũng là một lời hứa với con gái của ông. Dù ông không thể trở về, nhưng chiếc lược minh chứng cho tình yêu của ông dành cho con vẫn còn đó.

c, Nhận xét về nghệ thuật:

- Nguyễn Quang Sáng đã xây dựng những tình huống truyện bất ngờ, hấp dẫn mà vẫn tự nhiên, hợp lí.

- Tác giả lựa chọn ngôi kể thứ nhất nhưng đặt vào nhân vật bác Ba – người đồng đội của ông Sáu. Vì thế câu chuyện được tái hiện một cách chân thực, khách quan hơn.

- Tác giả miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc.

- Ngôn ngữ đậm chất địa phương Nam Bộ, mộc mạc, tình cảm.

Kết bài

- Đưa ra kết luận về tác phẩm: một trong những truyện ngắn tiêu biểu sáng tác trong thời kì kháng chiến, ca ngợi tình cảm gia đình, tình đồng chí, niềm tin và khát vọng hòa bình.

- Kết luận về nhân vật:

+ Là điển hình cho tính cách con người Nam Bộ: chất phác, sẵn sàng hi sinh vì độc lập tự do của dân tộc.

+ Tình yêu của ông Sáu dành cho con: cao cả, sâu đậm, không thể dập tắt

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà - Bài mẫu 1

Nguyễn Quang Sáng là một nhà văn Nam Bộ nên trong văn thơ của ông có cái chất hồn hậu, mộc mạc mà thấm tình người như chính con người Nam Bộ vậy. Truyện ngắn "Chiếc lược ngà" sáng tác năm 1966, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ gay gắt, quyết liệt ở chiến trường miền Nam. Trong không khí chiến tranh, tình cảm cha con trong truyện ngắn được nhà văn làm nổi bật tạo sự xúc động mãnh liệt cho người đọc. Trong các nhân vật trong truyện ngắn, hình ảnh người cha, tức ông Sáu thật khiến người đọc cảm thấy thật bình dị song cũng thật đẹp, tình yêu ông dành cho bé Thu làm lay động tâm hồn của độc giả.

Ông Sáu sau tám năm chiến đấu ở chiến trường, khi được nghỉ phép về thăm nhà, lòng ông nôn nao vì biết sắp được gặp con gái của mình, khi ông đi, con gái của mình mới được hơn một tuổi. Vì vậy,lần này trở về không tránh khỏi cảm giác hồi hộp, mong chờ. Có lẽ, tình cảm cha con thiêng liêng khiến ông nhận ngay ra bé Thu khi thuyền vừa mới cập bến, đó là một đứa bé khoảng lên chín, lên mười đang chơi ở gốc xoài. Sự xúc động, vui sướng khiến ông nghẹn ngào gọi tên con: "Thu! con" . Sự nôn nóng, xúc động của ông Sáu ta hoàn toàn có thể hiểu được. Với một người cha mà nói, sự xa cách, biệt li suốt tám năm ròng với chính đứa con gái mình hết mực yêu thương, nay được gặp lại vừa là niềm vui đoàn viên, vừa là niềm hạnh phúc vô bờ bến.

Tuy nhiên, mọi niềm vui của ông Sáu dường như không được lâu, bởi ngay sau đó, khi ông "bước tới vừa đưa tay đón chờ con" thì bé Thu không chạy lại ôm chặt lấy ông như ông từng mường tượng mà còn bé "tròn mắt nhìn", cái nhìn "vừa lạ lùng, vừa ngơ ngác". Sự xúc động làm cho vết thẹo trên mặt của ông "giật giật", giọng nói run run không còn kìm chế được được sự xúc động: "Ba đây con! Ba đây con". Vì sự nôn nóng, biểu hiện có phần gấp gáp, vồ vập của ông Sáu, lại thêm vết sẹo đỏ ửng trên mặt giật giật khiến cho bé Thu hoảng sợ , bé đã chạy đi, vừa chạy vừa kêu thét "má! Má". Bé Thu là một đứa trẻ, trước mặt có người lạ, lại có phần đáng sợ bởi vết sẹo trên mặt, sự hoảng hốt của bé, ông Sáu cũng phần nào hiểu được.

Nhưng bởi vì quá hi vọng vào cuộc đoàn viên hạnh phúc này nên khi bị bé Thu khước từ đón nhận, hoảng sợ chạy vụt đi thì ông Sáu đã "ngạc nhiên, đau đớn và hụt hẫng". Sự đau khổ của người cha bị chính con mình từ chối thừa nhận được nhà văn Nguyễn Quang Sáng miêu tả rất xúc động : "đau đớn khiến mặt anh sầm lại...hai tay buông thỏng như bị gãy". Người cha náo nức vì niềm vui được gặp con gái,muốn ôm con vào lòng với tất cả sự âu yếm dành dụm bao năm xa cách nhưng lại bị đứa con hoảng sợ, chối từ. Đó chẳng phải nỗi đau đớn, tuyệt vọng nhất của một người cha hay sao?

Hai ngày ở nhà, ông Sáu cũng chẳng dám đi đâu xa, cứ quanh quẩn tìm mọi cách để được gần con, mong mỏi sự đón nhận của bé Thu. Tuy nhiên, hiện thực diễn ra khiến ông vô cùng đau lòng, bé Thu không những nhất quyết không chịu nhận ông, mà một chút quan tâm, chút lễ phép đối với ông cũng không có. Khi được má sai vào gọi ba xuống ăn cơm, bé Thu cũng gọi cộc lốc, trống không, gọi chỉ vì bắt buộc phải làm vậy: "cơm chín rồi".Lúc ấy ông Sáu "vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười". Tuy là cười đấy, nhưng sao nụ cười này thật buồn, còn man mác sự thất vọng, bất lực, khổ tâm của người cha. Vì dù bao nhiêu cố gắng đi nữa thì cũng đều vô vọng, chính đứa con gái ruột thịt mình yêu quý đều một mực khước từ, thậm chí còn phủ nhận sự xuất hiện của ông.

Tuy rất buồn nhưng chưa một phút giây nào ông Sáu thôi cố gắng, thôi chăm chút, lo lắng cho bé Thu. Trong bữa cơm gia đình, vì yêu thương con nên ông Sáu đã gắp cho con miếng trứng cá to nhất, ngon nhất. Nhưng đáplại cử chỉ ân cần ấy là sự chối bỏ quyết liệt của con bé, con bé không những không đón nhận nó mà còn dùng đũa hất miếng trứng ra ngoài. Vì quá tức giận, ông Sáu đã đánh con. Đánh con nhưng lòng người cha còn đau gấp bội. Vì hành động nóng nảy này mà đến lúc hi sinh, ông Sáu vẫn mang theo sự hối hận. Đến tận lúc chia tay, lên đường vào chiến trận, ông Sáu vẫn "buồn nẫu ruột", ông không dám chạy lại ôm con, bế con vì sợ con bé hoảng sợ. Ông chỉ đưa mắt lên nhìn, cái nhìn cũng "buồn rầu". Nhưng thật bất ngờ,vào giây phút cuối cùng, khi sắp phải chia tay, ông Sáu lại vỡ òa trong hạnh phúc vì tiếng gọi ba bất ngờ từ bé Thu "b...a..". Ông Sáu sững sờ, một lần nữa không kìm nén được xúc động, người đàn ông ấy một tay ôm con, một tay lau nước mắt. Có thể nói, đây là món quà ý nghĩa nhất mà ông Sáu nhận được trước giây phút lên đường.

Vào chiến trường, ông Sáu không giây phút nào thôi nhớ con, vì lời hứa mua cho bé Thu một chiếc lược, nên khi nhặt được một mảnh ngà, ông đã vui sướng như nhặt được một thứ gì lớn lao lắm. Rồi cũng tự tay ông làm món quà này tặng cho con. Trên chiếc lược ông còn kì công khắc lên những dòng chứa đầy yêu thương: "Yêu nhớ, tặng Thu con của ba". Khi chiến đấu, vào giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, ông Sáu vẫn nhớ đến con. Thu hết tàn lực, ông lấy ra cây lược, trao cho ông Ba, bạn chiến đấu thân thiết của mình, cũng là người ông tin tưởng nhất lúc này. Không đủ sức chăng chối điều gì, ông Sáu chỉ nhìn ông Ba thật. Ánh nhìn ấy ám ảnh và thiêng liêng hơn một lời di chúc. Và đến lúc nhận được lời hứa từ ông Ba: "Tôi sẽ mang về trao tận tay cháu", ông mới nhắm mắt đi xuôi. Ông Sáu ra đi, nhưng kỉ vật là cây lược ngà, vật chứa đựng biết bao tình cảm của ông dành cho con thì vẫn còn mãi đó. Tấm lòng của người cha dành cho con đến phút cuối của cuộc đời vẫn bao la như vậy, da diết như vậy.

Thông qua nhân vật ông Sáu, nhà văn Nguyễn Quang Sáng không chỉ khắc họa được sinh động mà không kém phần chân thực hình ảnh người cha vĩ đại, cùng với tình yêu to lớn dành cho con của mình. Mà còn đánh động vào sâu thẳm trãi tim mỗi độc giả tình cảm cha con. Tôi tin rằng đọc tác phẩm này, nhiều độc giả nhớ về cha mình, nhớ về những hi sinh thầm lặng của cha trong suốt cuộc đời để dành cho chúng ta. Ta cảm nhận được sự thiêng liêng, vĩ đại nơi ông Sáu, ông không chỉ dành cho bé Thu tình cảm tuyệt vời nhất mà còn lưu giữ lại cho bé Thu một kỉ vật, đó chính là chiếc lược ngà, để khi nhìn vào đó, bé Thu có thể nhớ về cha mình, biết được tình cảm của cha dành cho mình sâu đậm đến mức nào

Không chỉ là một người cha hết lòng yêu thương con, ông Ba còn là một người chiến sĩ cách mạng kiên trung, dũng cảm. Ông gắn bó với chiến trường, ngày ngày đối đầu với mưa bom bão đạn cũng chỉ mong mỏi đất nước được hòa bình, đất nước được tự do. Ông đã dành hơn nửa cuộc đời của mình để chiến đấu, dù có thương nhớ con nhưng ông cũng chưa bao giờ từ bỏ, vẫn sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến bất cứ lúc nào về Tổ quốc, quê hương của mình. Ta có thể thấy, dù yêu con nhưng ông Sáu cũng biết được trách nhiệm lớn lao của mình đối với Tổ Quốc. Vì vậy mà ông gác lại mong muốn được gặp con, được ôm con vào lòng, thực hiện nghĩa vụ với Tổ quốc thân yêu. Không chỉ chịu nhiều nỗi đau về thể xác khi chiến đấu, vết tích còn để lại đó là vết thẹo dài trên mặt mà ông cũng đã hi sinh tính mạng của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Như vậy, thông qua truyện ngắn "Chiếc lược ngà", nhà văn Nguyễn Quang Sáng không chỉ làm nổi bật lên sự thiêng liêng của tình cha con, nỗi đau, nỗi mất mát mà chiến tranh mang lại cho mỗi gia đình. Mà nhà văn còn khắc họa thành công nhân vật ông Sáu, người chiến sĩ kiên trung, song cũng là một người cha dành cho con mình tình cảm yêu thương vô bờ bến. Câu chuyện về ông Sáu thật khiến người đọc xúc động, bồi hồi, bởi hình ảnh ấy quá đẹp, nó chạm vào phần tình cảm sâu thẳm trong trái tim mỗi độc giả, đó là tình phụ tử thiêng liêng.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà - Bài mẫu 2

Nguyễn Quang Sáng là nhà văn Nam Bộ, các tác phẩm của ông chủ yếu viết cho con người và cuộc sống ở Nam Bộ. Trong đó ” chiếc lược ngà” là một trong những chuyện ngắn tiêu biểu được viết năm 1966 tại chiến trường Nam Bộ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt, điều đáng lưu ý là truyện ngắn này viết trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh nhưng lại tập trung nói về tình người, cụ thể là tình cha con, tình cảm ấy được diễn ra một cách sâu sắc cảm động từ 2 nhân vật bé Thu và ông Sáu, nhưng có lẽ xúc động và gây ám ảnh hơi cả với người đọc là tình cảm người cha- ông Sáu với đứa con gái của mình. Ông Sáu là người nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước, lúc đi kháng chiến đứa con gái của ông chưa đầy một tuổi, mãi đến khi con gái lên tám tuổi ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Nhưng bé Thu đã cự tuyệt tình cảm của ông chỉ vì trên mặt ông có vết thẹo khác với người cha trong bức hình mà em đã biết. Đến phút chia tay ông mới đón nhận được tình cảm của con nhưng giây phút ấy quá ngắn ngủi. Vì nhiệm vụ, ông phải trở lại chiến trường, ông lên đường với lời hứa sẽ mua cho con một cây lược.Chính trong hoàn cảnh ấy tình cảm ông dành cho con thật sâu nặng và cảm động, Cảm nhận về hình ảnh của ông Sáu trong ” chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Trước hết tình cảm của ông Sáu dành cho con được thể hiện phần nào trong chuyến về phép thăm nhà. Đến lúc được về ” cái tình cha con nôn nao trong lòng anh” Khát khao đốt cháy lòng ông lúc này là được gặp con và mong con gọi một tiếng ba để ông được sống trong tình cha con mà bấy lâu nay ông từng mong đợi, vì thế mà khi xuống xuồng vào bến thấy một đứa bé chạc bảy đến tám tuổi, đoán biết la con không chờ xuồng cập bến, ông nhún nhảy thốt lên, xô chiếc xuồng tạt ra. Anh bước vội vàng với những bước dài rồi dừng kêu to” Thu con” tiếng gọi của ông Sáu nghe thật xúc động. Nó chứa đựng bao tình cảm yêu thương và khát khao gặp lại con. Nhưng thật chớ chêu bé Thu lại tỏ ra ngờ vực lảng tráng. Điều đó khiến ông vô cùng đau đớn, thất vọng ” nỗi đau đớn khiến mặt anh sầm lại trong thật đáng thương và hai tay buông xuống như bị gãy”.

Đặc biệt, mấy ngày ông Sáu ở nhà, ông chẳng dám đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con, ông mong được nghe một tiếng "ba” của con bé nhưng tất cả đều không trọn vẹn. Ông Sáu càng tỏ ra gần gũi con bao nhiêu thì con bé tỏ ra lạnh nhạt bấy nhiêu. Nó nhất định không chịu gọi ông là ” ba”, không nhờ ông chắt nước nồi cơm đang sôi, những lúc như vậy ông khổ tâm hết sức, yêu con ông không lỡ mắng mà chỉ ” nhìn con khe khẽ lắc đầu vừa cười”. Nụ cười lúc này không phải là vui mà phản ảnh sự khổ tâm của ông ” có lẽ vì khổ tâm quá đến nỗi không khóc được nên phải cười vậy thôi. Sự mất mát quá trong tình cảm của ông chính là bi kịch của chiến tranh, nó đã làm cho mặt ông đổi khác ” vết thẹo dài” nên con bé trông ông không còn giống trong hình với má nó. Ông vẫn không nản lòng, vẫn quan tâm tới con, nhưng ông càng quyết tâm thì nó phản ứng càng dữ dội hơn, đó là trong bữa ăn ông gắp cái trứng cá to vàng để vào chén nó, tưởng nó sẽ hiểu được thành ý nhưng ngược lại nó liền ” lấy đũa soi vào chén rồi hất cái trứng cá ra, cơm văng tung tóe” lúc này ông bị con cự tuyệt hoàn toàn. Vì quá thất vọng không kịp suy nghĩ ” anh vung tay đánh vào mông nó và hét lên ” sao mày cứng đầu vậy hả”. Tình yêu thương con của ông trở nên bất lực.

Đến lúc chia tay, ông cũng muốn ôm con hôn con nhưng lại sợ nó từ chối và bỏ chạy nên ông chỉ nhìn con với đôi mắt trìu mến và buồn rầu nhưng rồi trước những biển hiện tình cảm mãnh liệt của con, ông thực sự xúc động khi con bé cất tiếng gọi ” ba”. Không kìm được xúc động và không muốn cho con nhìn thấy mình khóc, anh Sáu một tay ôm con, một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên tóc con. Giọt nước mắt của ông lúc này không vì đau khổ mà nó là ” giọt châu” rơi trong sự sung sướng hạnh phúc của một người cha yêu thương con sâu sắc. 

Tình cảm yêu thương của ông Sáu được thể hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu trở lại chiến tranh. Sau khi chia tay với gia đình, ông Sáu vô cùng nhớ con. Những lúc ấy ông lại thấy dằn vặt day dứt vì đã đánh con trong lúc nóng giân, rồi lời dặn của con: ” Ba về, ba mua cho con một cây lược nghe Ba”. Đã thôi thúc ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà để tặng cho con, khi kiếm được khúc ngà voi ông đã vô cùng vui mừng sung sướng ” mặt anh hớn hở như một đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta ” hóa thành” trẻ con lại chính là lúc người ta đang hiện lên cá tư cách người cha cao quý của mình, rồi ông Sáu dồn hết tâm sức và tình yêu thương và chiếc lược ” những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố gắng như một người thợ bạc”. Trên sống lưng lược có khắc một chữ nhớ mà ông gò lưng tẩn mẩn khắc từng nét “yêu nhớ tặng Thu con của ba” chiếc lược ngà trở thành kỉ vật thiêng liêng của ông Sáu là kết tinh của tình phụ tử mộc mạc đằm thắm sâu lặng. Nó làm dịu đi lỗi ân hận và chứa đựng bao tình cảm yêu mến nhớ thương mong đợi của người cha đến với đứa con xa cách ” cây lược ấy chưa chải được mái tóc của con nhưng như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh”. Những đêm nhớ con anh anh mang chiếc lược ngà ra ngắm ngía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng, thêm mượt. Lòng yêu thương con được kết tinh trong cây lược ngà ấy đã khiến cho người cha – người đã trở thành một nghệ nhân – nghệ nhân chỉ sáng tác ra một tác phẩm duy nhất của cuộc đời. 

Nhưng rồi trong tình cảnh đau thương lại đến với ông Sáu, ông bị trúng dạn của giặc. Trong giờ phút cuối cùng không kịp chăng chối lại điều gì, ông đưa tay lên túi, móc cây lược cho ông Ba- người bạn chiến đấu và nhìn bạn một hồi lâu, cái nhìn như một lời chăng chối ủy thác thiêng liêng là ước nguyện giữ gìn tình phụ tử muôn đời. Ông Sáu đã hi sinh nhưng tình cha con ở ông thì không thể nào chết được, tình cha con mãi thiêng liêng bất diệt. 

Nhân vật ông Sáu người cha giàu tình yêu thương con đã để lại bao mến phục với độc giả, một phần nhờ cách xây dựng nhân vật của Nguyễn Quang Sáng, trước hết nhà văn đã đặt nhân vật vào tình huống truyện bất ngờ để bộc lộ nội tâm nhân vật ngoài ra tác giả chọn ngôi kể chuyện trong vai người bạn thân thiết của ông Sáu nên không chỉ là người chứng kiến khách quan kể lại câu chuyện mà còn bày tỏ sự đồng cảm chia sẻ với nhân vật ông Sáu. 

Có thể nói, chiến tranh đã lùi xa hơn ba mươi năm nhưng hình ảnh nhân vật ông Sáu và câu chuyện về "chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng vẫn để lại bao ám ảnh day dứt trong lòng bạn đọc. Câu chuyện ấy không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ông Sáu, đặc biệt là tình cảm ông Sáu dành cho con, mà còn gợi cho người đọc nỗi đau thương mất mát của chiến tranh gây ra bao nhiêu gia đình, con người. Từ đó, ta càng có ý thức trân trọng giữ gìn tình phụ tử cao đẹp đồng thời trân trọng cuộc sống hòa bình đang được hưởng hôm nay.

Xem thêm: Tiểu Sử Hoa Hậu Giáng My - Chiều Cao Và Tiểu Sử Của Giáng My

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà - Bài mẫu 3

*

Tìm hiểu về hoàn cảnh đi chiến đấu của ông Sáu khi người con yêu dấu mới chỉ một tuổi, tâm trạng và hành động của ông Sáu khi lần đầu hội ngộ bé Thu là những điểm chính khi cảm nhận về nhân vật ông Sáu.

* Hoàn cảnh đi chiến đấu của ông Sáu khi bé Thu còn nhỏ: 

Trong thời kỳ máu lửa căng thẳng của lịch sử dân tộc, bất kỳ người thanh niên nào thì cũng không thể ngồi yên nhìn đất nước bị quân giặc giày xéo. Ông Sáu cũng vậy. Tuy lấy vợ không được bao lâu nhưng ông đã phải giã từ gia đình lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của tổ quốc. Cảm nhận về nhân vật ông Sáu sẽ thấy ông chiến đấu không chỉ vì đất nước mà còn vì để bảo vệ cuộc sống của những người dân thân mà ông yêu quý.

Những ngày ở chiến khu cứ thế trôi qua trong nỗi nhớ nhà dai dẳng, đau đáu khôn nguôi. Và rồi vợ ông đã sinh con, một bé gái kháu khỉnh. Đó vừa là tin vui nhưng cũng vừa là tin buồn, vui bởi ông cuối cùng cũng trở thành cha. Còn buồn là bởi lẽ ông không thể ở bên vợ tận mắt chứng kiến khoảnh khắc con chào đời hay cùng có mặt trong quá trình trưởng thành của con. Nên ông luôn hướng về gia đình.

So với ông, ba ngày nghỉ phép xuất hiện như một phép thuật, một cơ hội quý giá đựng ông được về với gia đình, đặc biệt quan trọng là về với người con mà ông trước đó chưa từng được ôm hôn nó lần nào. Giờ đây ông có thể nhìn thấy người con mà ông mới chỉ nhìn mặt nó qua mấy tấm ảnh trắng đen. Nghĩ đến giây phút đó thôi bao cảm xúc đã trào dâng.

* Tâm trạng của ông Sáu khi đối diện với bé Thu trong lần gặp đầu tiên: 

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu sẽ thấy ông càng háo hức hồi hộp bao nhiêu thì khi về lại quê hương, gặp bé Thu ông càng đau đớn bấy nhiêu. Khi xuồng chưa cập cảng, ông đã vội nhảy xuống bờ, dang hai tay chạy về phía con cất tiếng gọi. Lúc ấy mọi cảm xúc vỡ òa nghẹn ngào sung sướng. Biết bao tình yêu ông đổ dồn trong hai tiếng gọi “Thu! Con” thân thương ấy. Nhưng đáp lại tấm lòng của ông chỉ là sự việc lạnh lùng xa lạ của Thu.

Con bé không sở hữu và nhận ra anh, không sở hữu và nhận ra anh là ba của nó. Nó sợ hãi và vùng chạy đi. Điều đó như một nhát dao cứa vào trái tim anh. Làm thế nào mà không đau khi người con gái ruột của mình lại không sở hữu và nhận ra mình. Làm thế nào mà không đau khi người con mình ngóng trông bấy nay lại hờ hững lạnh nhạt. Bao viễn cảnh tươi đẹp anh vẽ ra đều tan biến đọng lại đó là một cảm giác đau nhói. Tuy có thể hiểu được phần nào tâm trạng của bé Thu nhưng ông không thể không thấy đắng cay. Một nụ cười chua chát hiện ra trên gương mặt anh.

* Tình cảm cha con trong Chiếc lược ngà qua hành động của ông Sáu: 

Ba ngày nghỉ phép ngắn ngủi, ông Sáu không làm gì cả ông chỉ quẩn quanh trong nhà bên cạnh bé Thu. Bởi ông hy vọng, con bé rồi sẽ hiểu ra đồng ý chấp thuận ông và gọi ông một tiếng ba. Một điều dường như thể hiển nhiên so với những gia đình bình thường khác thì so với ông Sáu lại là một điều vô cùng khó khăn.

Ông Sáu dành hết thời gian, tâm tư vào việc đối xử với con để phần nào bù đắp khoảng tầm thời thời gian khi mình không ở cạnh con. Nhưng bé Thu lại cương quyết không đồng ý chấp thuận sự quan tâm của ông, không hề lay chuyển tình cảm và càng không đồng ý gọi ông Sáu là ba. Dù mẹ nó hay những người dân xung quanh có nói gì thì con bé cũng nhất quyết không gọi ba. Không biết gọi ông Sáu là gì nên thành ra nó cứ nói trổng như khi kêu ông vào ăn cơm hay khi nhờ ông chắt nước nồi cơm.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu, ta thấy trước thái độ của con bé ông chỉ cười trừ. Ông Sáu hiện ra không chỉ thương yêu mà còn bao dung. Bởi lẽ ông hiểu con bé còn nhỏ, và chính ông cũng luôn có lỗi khi không kề bên con trong ngần ấy năm cuộc đời của con nên ông hiểu vì sao con bé lại hành động lại đối xử với ông như người xa lạ Đỉnh cao của quan hệ này là trong bữa cơm, khi ông Sáu gắp cho bé Thu cái trứng cá vào bát nó, Thu đã hất mạnh cái trứng đi khiến cơm văng tung tóe khắp nơi. Không nén được cơn giận, ông đã vung tay đánh bé Thu.

Ông đánh bé Thu không phải là vì ông không thương con nữa mà ẩn sâu cái đánh ấy một sự bất lực của trái tim. Dường như ông càng nỗ lực gần con hơn thì ông lại càng xa con hơn. Và thời gian cũng không còn được chấp nhận ông có thể ở lại chờ nhận đực tiếng gọi ba. Lúc trước dường như không, thời điểm hiện tại thì cơ hội lại càng mong manh hơn. Ông đánh con nhưng ông lại đó chính là người đau đớn hơn hết.

* Phân tích tình cảm ông Sáu dành riêng cho con khi bé Thu gọi ba

Cuối cùng thì ông Sáu cũng sẽ được toại nguyện. Tiếng gọi ba mà anh hằng tha thiết khao khát được vang lên trong giây phút cuối cùng của cuộc hội ngộ. Ông Sáu lại phải chia tay gia đình trở về kháng chiến. Có lẽ nếu tiếng gọi ấy không vang lên sẽ trở thành nuối tiếc lớn số 1 cuộc đời của ông sáu và cả bé Thu nữa. Bởi lẽ “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, mấy người đi biết có trở về, biết đâu đây là lần gặp cuối. Ông Sáu sẽ mãi hối tiếc vì không được nghe tiếng gọi thân thương thiêng liêng.

Còn bé Thu nếu không cô sẽ mãi tiếc nuối vì chẳng kịp nhận cha. Nhưng cuối cùng may mắn đã mỉm cười với hai con người này. Cuối cùng mọi chuyện đã vỡ lẽ ra. Thu không sở hữu và nhận ông Sáu vì người cha mà con bé xem hình không có vết sẹo dài trên mặt. Nó không hận không oán trách cha nó khi ông không ở bên cạnh nó trong những ngày tháng thơ bé, nó luôn yêu thương trân quý bức hình của cha nó. Chính vì yêu thương nên nó không thể đồng ý chấp thuận một người dân có ngoại hình khác với tấm hình làm cha.

Nhưng khi hiểu ra vết sẹo ấy là vì cuộc chiến tranh gây ra, đó đó chính là người cha mà nó hằng mong đợi xưa nay thì mọi cảm xúc vỡ òa. Bức tường thành kiên cố trong tim nó cũng sụp đỏ, chỉ từ tình yêu thương. Nó cất tiếng gọi ba. Còn ông Sáu cũng niềm hạnh phúc đến rơi nước mắt. Đó không phải là giọt nước mắt tủi hờn mà là giọt nước mắt niềm hạnh phúc. Niềm hạnh phúc vì cuối cùng ông cũng được nghe con gọi cha, niềm hạnh phúc vì cuối cùng ông cũng cảm nhận được tình yêu thương.

Tình yêu thương là một sợi dây mong manh vô hình dung có thể mong manh giản dị và đơn giản bị tác động nhưng nó vô cùng bền chặt. Điển hình đó chính là tình yêu thương của bé Thu và ông Sáu. Càng kiên định bao nhiêu trong việc không sở hữu và nhận ông Sáu làm cha thì lại càng yêu thương bấy nhiêu khi nhận ra cha. Con bé không nỡ rời xa người cha mà nó vừa nhận ra. Ông Sáu cũng vậy, ông cũng muốn ở lại bên cạnh con tận hưởng thêm chút tình yêu thương gia đình mà ông vừa nhận được.

Ba ngày nghỉ phép tuy ngắn ngủi tuy nhiên với tình hình kháng chiến của đất nước hiện tại thì đó là một thời gian đặc biệt quan trọng quý giá. Tuy rất yêu thương con nhưng ông cũng phải gác lại tình yêu thương ấy để lên đường hoàn thành nhiệm vụ sứ mệnh với đất nước.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu, ta thấy tình cảm gia đình đáng trân quý thì tình cảm nghĩa vụ với đất nước càng quý gia hơn. Ông đã biết gác tình riêng để hoàn thành sứ mệnh, để bảo vệ đất nước cũng như để bảo vệ cuộc sống bình yên của biết bao gia đình. Khoảnh khắc bé Thu gọi cha tuy ngắn ngủi nhưng đã là một động lực to lớn để ông có thể tiếp tục chiến đấu hết mình đất nước.

* Tình yêu thương con da diết tới mức phút cuối cuộc đời của ông Sáu

Rời xa con, rời xa gia đình đi chiến đấu nhưng anh luôn hướng về quê nhà về gia đình. nhà trở thành nguồn sức mạnh to lớn động viên anh ngày ngày chiến đấu chống ngoại xâm. Những ngày tháng ở chiến khu cũng là lúc tình yêu thương của ông Sáu dành riêng cho con bộc lộ rõ nét nhất.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu sẽ thấy ông luôn ăn năn day dứt về chuyện lỡ tay đánh con. Trước lúc đi, bé Thu có nói muốn ông tặng cho một chiếc lược ngà. Lời nói vô tư của trẻ nhỏ ấy lại khiến ông khắc cốt ghi tâm. Ước ao của con từ từ cũng trở thành ước nguyện của ông. Ông tẩn mẩn ngồi làm cho con chiếc lược. Thận trọng, cất công như người thợ bạc. Hình ảnh ông ngồi khắc chữ lên chiếc lược có lẽ là hình ảnh đẹp tuyệt vời nhất của mẩu truyện.

Chiếc lược ấy được khắc dòng chữ “Yêu nhớ tặng Thu, con của ba”, tuy dòng chữ cô đọng nhưng đã thể hiện thâm thúy tình cảm của ông dành riêng cho bé Thu. Chiếc lược xét về vật chất không đáng giá nhưng xét về tình cảm tinh thần thì nó vô cùng quý giá không gì có thể thay thế được bởi vì nó được làm từ tình yêu thương vô bờ bến của người cha dành riêng cho con.

Nhưng cuộc chiến tranh ác nghiệt đã cướp mất mạng sống của ông Sáu, cướp đi cơ hội được hội ngộ con lần nữa. Di nguyện trước lúc chết của ông Sáu đó chính là có thể trao chiếc lược ấy đến tay Thu. Đến phút cuối của cuộc đời ông vẫn luôn nhớ vẫn luôn yêu thương bé Thu.

* Định hình nghệ thuật và thẩm mỹ khi cảm nhận về nhân vật ông Sáu

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu để thấy tác phẩm đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng cao quý của ông Sáu và bé Thu. Việc lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn trần thuật phù hợp đã tạo nên hiệu ứng cho mẩu truyện. Câu truyện qua lời kể của Bác bỏ Ba trở nên xúc động hơn, chân thật hơn. Ngôn ngữ có sự chắt lọc giản dị nhưng thấm đẫm hơi thở cuộc sống. Đặc biệt quan trọng là rõ ràng chiếc lược ngà diễn đạt theo ý riêng là rõ ràng đắt nhất của mẩu truyện đã chuyển tải thành công vẻ đẹp của tình cha con thiêng liêng cao quý.

Kết bài: Dù ông Sáu có hi sinh nhưng tình yêu ông dành riêng cho bé Thu vẫn vẹn nguyên tuyệt đẹp. Tình cảm ấy cũng đó chính là động lực cho bé Thu nỗ lực hơn và tiếp nối sự nghiệp cách mệnh của ông. Tác phẩm không chỉ đề cao tình cảm cha con mà còn lên tiếng phê phán tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho thấy thêm bao gia đình tan vỡ, chia lìa.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà - Bài mẫu 4

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng được biết đến là một nhà văn gắn bó với chiến trường Nam Bộ. Đến với đoạn trích “Chiếc lược ngà”, ta bắt gặp một tình huống truyện bất ngờ mà lại tự nhiên, hợp lý, thể hiện được sâu sắc tính cách nhân vật. Trong đoạn trích, nhân vật ông Sáu đã được khắc họa rõ nét tính cách thông qua những lời nói và hành động, thể hiện được một tình cảm thiêng liêng, đáng quý của người cha đối với con.

Câu chuyện kể về tình cảm cha con sâu sắc giữa nhân vật ông Sáu và nhân vật bé Thu. Sau 8 năm xa cách, ông Sáu mới được một lần về thăm gia đình, thăm con. Gặp lại con, ông tưởng sẽ được con ôm chầm lấy vào lòng, nhưng ông lại phải chịu sự xa lánh của đứa con gái đầu lòng cũng là đứa con duy nhất. Trong mấy ngày nghỉ phép, ông Sáu muốn dành hết tình cảm cho con gái, nhưng con bé lại càng cố gạt ra. Trong một lần không nén nổi tức giận, ông Sáu đã quơ đũa đánh con, sau đó ông cũng đã rất hối hận về hành động của mình. Đến khi phải lên đường, thì bé Thu mới nhận ông là ba, ông vẫn phải ra đi, mang trong mình lời hứa mua cho con một cây lược, Khi bị thương nặng, ông vẫn dùng ánh mắt khẩn thiết của mình để nhờ bác Ba có ngày trao tận tay hộ ông chiếc lược ngà.

Ông Sáu là một người cha hết mực yêu thương con. Xa cách con từ những ngày đầu, ông Sáu luôn canh cánh trong lòng nỗi nhớ thương con. Điều đó thể hiện rõ qua lần gặp đầu tiên của ông Sáu đối với bé Thu. Ngay cả khi xuồng chưa cập bến, ông Sáu đã rất nôn nóng được ôm chầm lấy con, và ông xúc động vô cùng vào giây phút ấy, vết thẹo trên má ông bắt đầu giật giật. Và tình cảm cho con cháy bỏng bao nhiêu, ông lại thất vọng và hụt hẫng bấy nhiêu khi bé Thu nhìn ông với ánh mắt ngạc nhiên và chạy đi. Sự hụt hẫng khi biết bao khi tình cảm, mong chờ của mình không được con gái đáp lại thể hiện qua cái buông thõng tay của ông Sáu.

Trong những ngày nghỉ phép, ông Sáu luôn muốn dành tình cảm cho con, nhưng con bé lại càng lúc càng muốn đẩy ra. Ông mong chờ ở bé Thu một tiếng gọi ba nhưng càng lúc càng vô vọng, con bé bướng bỉnh và nhất quyết không gọi. Đối với những người cha khác, được nghe tiếng con gái gọi “ba” là một điều dễ dàng, nhưng đối với ông Sáu lại là một khát khao cháy bỏng. Ông dành tình yêu thương cho con nên khi con bé bị đẩy vào tình huống khó xử lúc cơm sôi ông cũng chưa giúp, chỉ mong con bé vào thế bí mà gọi ông bằng “ba”, nhưng cũng không được. Ông chỉ biết cười trừ, mà nụ cười ấy chất chứa đầy đắng cay, bất lực. Đó là sự bất lực khi tình yêu con dạt dào mà không được con chấp nhận. Đến bữa cơm, ông cũng dành cho con miếng trứng cá to và ngon nhất, nhưng con bé lại hất văng cái trứng cá ra. Quá bất lực, sự mong ngóng con chấp nhận ba hàng ngày đã dồn nén thành nỗi đau đớn, hóa thành tức giận nhất thời mà ông Sáu đã đánh con. Cái đánh con ấy, cũng khởi nguồn từ tình yêu con quá sâu nặng, sự mong ngóng được hồi đáp tình cảm từ con quá mãnh liệt. Sauk hi đánh con, ông Sáu cũng đã rất ân hận, vì sao lúc đó lại đánh con, ông cũng rất thương con của mình.

Đặc biệt, tình yêu thương con mãnh liệt của ông Sáu được thể hiện rõ qua khung cảnh chia tay. Lúc bé Thu nhận ba, gọi tiếng “ba” xé gan xé ruột, ông Sáu như vỡ òa trong niềm hạnh phúc. Ông khóc, những giọt nước mắt của sự chờ đợi tình cảm dồn nén qua bao nhiêu năm, được giải tỏa bởi vì con đã chịu nhận ba. Tình cảm dành cho con sâu nặng đã được đền đáp, ông Sáu đã vô cùng mãn nguyên. Tuy nhiên, ông vẫn phải lên đường làm nhiệm vụ. Ông thương con, nhớ con, giữ lời hứa mang về cho con một cây lược. Hình ảnh “chiếc lược ngà” được làm tỉ mỉ, chính là thể hiện sâu sắc nhất tình cảm của ông Sáu với bé Thu, minh chứng cho một tình cha mãnh liệt, sâu nặng.

Ông Sáu còn là một người chiến sĩ Cách mạng tận tâm, kỉ luật, trách nhiệm. Ông là người chồng, người cha giàu tình yêu thương như thế, nhưng khi làm một người lính, được nghỉ phép ông mới về thăm nhà, mặc dù quãng thời gian xa gia đình xa con ông luôn canh cánh nỗi nhớ. Và kể cả khi thời gia về thăm gia đình rất ít, phải đến giây phút chia tay con mới nhận cha, được người đồng đội là bác Ba gợi ý hay là ở lại nhà một vài hôm, ông Sáu cũng không đồng ý, ông vẫn quyết lên đường làm nhiệm vụ. Ta có thể thấy ở đây, ông Sáu khi mang trên mình trách nhiệm đối với đất nước, ông luôn làm nhiệm vụ một cách trách nhiệm, kỉ luật.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã tái hiện và khắc họa tính cách nhân vật ông Sáu điển hình, với cách phân tích diễn biến tâm lý nhân vật tinh tế. Qua đó, tác giả đã làm nổi bật hình ảnh ông Sáu bên cạnh là một người cha hết mực thương con, còn là một người chiến sĩ kỉ luật, trách nhiệm, giàu tình yêu quê hương, đất nước.

Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà - Bài mẫu 5

Chiếc lược ngà là truyện ngắn xuất sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha - con và nỗi đau trong chiến tranh do quân giặc gieo rắc thời chống Mĩ. Ông Sáu là một trong những nhân vật thể hiện sâu sắc chủ đề ấy.

Ông Sáu, một nông dân Nam Bộ giàu lòng yêu nước đã tham gia 2 cuộc kháng chiến (đánh Pháp và đánh Mĩ), và đã anh dũng hi sinh. Ra đi đánh giặc từ năm 1946 mãi đến năm 1954, hòa bình lập lại, ông mới được về thăm quê một vài ngày. Ngày ra đi bộ đội, đứa con gái bé bỏng thân yêu của ông mới lên một tuổi, ngày về thì con đã 8, 9 tuổi. Cái khao khát của một người lính sau những năm dài vào sinh ra tử được trở lại quê hương, được gặp lại vợ con, được nghe con cất tiếng gọi “ba” một tiếng cũng không trọn vẹn! Đó là bi kịch thời chiến tranh. Lúc chia tay vợ con lần thứ hai để bước vào một cuộc chiến đấu mới, ông mới được một khoảnh khắc hạnh phúc khi đứa con gái ngây thơ "nhận ra" ba mình và kêu thét lên: "Ba... ba!". Ông ôm con "rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con". Ông Sáu đã ra đi với nỗi nhớ thương vợ con không thể nào kể xiết. Bom đạn giặc đã làm thay đổi hình hài ông. Vết thẹo dài trên má phải - vết thương chiến tranh - đã làm cho đứa con gái thương yêu, bé bỏng không nhận ra gương mặt người cha nữa! Ông đã ra đi, mang theo hình ảnh vợ con, với lời hứa mang về cho con gái chiếc lược cùng với nỗi ân hận day dứt "sao mình lại đánh con ” cứ giày vò ông mãi. Nỗi đau, nỗi nhớ thương và mất mát... do quân giặc đem đến cho ông Sáu, cho bao người lính, cho bao bà mẹ, em thơ trên khắp mọi miền đất nước ta có bao giờ nguôi! Sự hi sinh của thế hệ đi trước để làm nên độc lập, thống nhất, dân chủ, hòa bình là vô giá.

Sau năm 1954, ông Sáu không tâp kết ra Bắc, ông nhận nhiệm vụ mới ở lại miền Nam "nằm vùng" hoạt động bí mật. Trong những ngày ở rừng, ở cứ bị giặc ruồng bố triền miên. Thiếu gạo phải ăn bắp. Gian khổ và nguy hiểm. Cái chết bủa vây cuộc chiến đấu thầm lặng. Ông Sáu vẫn không nguôi nhớ vợ con. Ông đã biến vỏ đạn 20 li của giặc Mĩ thành chiếc cưa nhỏ, đã tỉ mỉ, kiên nhẫn và khéo léo như một người thợ bạc chế tác khúc ngà voi thành một chiếc lược ngà xinh xắn có khắc dòng chữ: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Chiếc lược ngà với dòng chữ ấy mang theo bao tình cảm sâu nặng của người cha đối với đứa con bé bỏng. Tình thương con của ông Sáu thật vô cùng tha thiết. Điều đó cho thấy, ông Sáu cũng như hàng triệu chiến sĩ, đồng bào ta hi sinh chiến đấu vì đất nước và dân tộc, vì hạnh phúc gia đình, vì tình vợ chồng, tình cha con.

Chiếc lược ngà như một vật kí thác thiêng liêng của người lính về tình phụ - tử sâu nặng mà bom đạn quân thù không thể nào tàn phá được. Chính vì thế, khi bị trúng đạn máy bay Mỹ bắn vào ngực, lúc hấp hối, ông "đưa tay vào túi, móc cây lược” đưa cho bạn, nhìn bạn hồi lâu rồi tắt thở... Ông Sáu đã hi sinh trong những ngày đen tối và gian khổ. Ngôi mộ ông là "ngôi mộ bằng phẳng như mặt rừng". Nhưng chỉ có "tình cha con là không thể chết được!".

Hình ảnh ông Sáu, hình ảnh người cha trong truyện Chiếc lược ngà sâu nặng tình cha - con, chiếc lược ngà với dòng chữ mãi mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, về bi kịch đầy máu và nước mắt đã để lại nhiều ám ảnh bi thương trong lòng ta. Ông Sáu là người lính của một thế hệ anh hùng đi trước mở đường đã nếm trải nhiều thử thách, gian khổ và hi sinh.

Truyện Chiếc lược ngà và hình ảnh ông Sáu, bé Thu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩ về tình cha con sâu nặng và cao đẹp trong cảnh ngộ éo le của chiến tranh. Và bài học "uống nước nhớ nguồn "càng thêm thấm thía.

---/---

Trên đây là một số bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích Chiếc lược ngà Top lời giải đã biên soạn. Hy vọng sẽ giúp ích các em trong quá trình làm bài và ôn luyện cùng tác phẩm. Chúc các em có một bài văn thật tốt!